𝐊𝐡𝐢 𝐭𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐭𝐢́𝐜𝐡 𝐭𝐫𝐨̛̉ 𝐭𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐱𝐢𝐞̂̀𝐧𝐠 𝐱𝐢́𝐜𝐡
𝐁𝐢 𝐤𝐢̣𝐜𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐜𝐡𝐮̉ 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐦𝐞𝐫𝐢𝐭𝐨𝐜𝐫𝐚𝐜𝐲 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐱𝐚̃ 𝐡𝐨̣̂𝐢 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐧 đ𝐚̣𝐢
Trong lịch sử xã hội hiện đại, ít có khái niệm nào vừa hấp dẫn vừa gây tranh cãi như “chủ nghĩa thành tích” hay meritocracy. Được khởi sinh như một giấc mơ dân chủ hóa cơ hội, nó hứa hẹn thay thế địa vị dòng dõi bằng nỗ lực cá nhân, đưa ra viễn tượng rằng một người có thể vươn lên nhờ tài năng và lao động bất chấp nguồn gốc xuất thân. Đằng sau viễn tượng ấy là khát vọng phá vỡ đặc quyền cha truyền con nối, mở cánh cửa vào những định chế vốn khép kín. Nhưng chính khái niệm này đã biến đổi. Từ một lời hứa công bằng thành một cơ chế khắc nghiệt, con người bị đo lường, so sánh, phân loại và giam hãm trong nỗi ám ảnh về sự thành công. Không chỉ những ai thất bại trong cuộc đua cảm thấy cay đắng và bị loại trừ, ngay cả những kẻ chiến thắng cũng phải sống trong nỗi sợ hãi bị tụt lại phía sau.
Nếu nhìn lại bối cảnh nước Mĩ giữa thế kỉ 20, bạn sẽ thấy chủ nghĩa thành tích xuất hiện như một công cụ cải cách. Những trường đại học danh giá như Havard hay Yale từng tồn tại nhờ truyền thống tuyển sinh dựa trên huyết thống. Con cháu các gia đình cựu sinh viên gần như nghiễm nhiên có một chỗ đứng. Chính sách mới, với tinh thần meritocratic, chủ trương đánh giá năng lực cá nhân qua thành tích học tập, mở đường cho con em tầng lớp trung lưu và lao động có cơ hội chen chân vào giới tinh hoa. Trong một thời gian, sự thay đổi ấy tạo ra cảm giác tiến bộ. Xã hội có vẻ công bằng hơn khi những “người ngoài” tài giỏi chiếm được chỗ ngồi vốn độc quyền của “người trong”.
Nhưng ẩn sau bức màn lấp lánh ấy, một logic khác được hình thành. Khi thành công gắn chặt với thành tích, khi giá trị con người được xác lập bởi số điểm thi, bằng cấp và hồ sơ cá nhân, thì cũng đồng nghĩa mọi thất bại đều bị quy chiếu về năng lực hay thiếu sót nỗ lực của cá nhân. Cơ chế này, thay vì xóa bỏ phân tầng xã hội, đã tái sản xuất nó bằng một hình thức khác. Người giàu, có điều kiện tiếp cận trường tốt, thầy giỏi, các khóa luyện thi đắt đỏ, lại có thêm lợi thế trong cuộc đua vốn được coi là công bằng. Người nghèo, thiếu tài nguyên, thiếu sự chuẩn bị, bị loại bỏ ngay từ vòng ngoài. Chủ nghĩa thành tích vì thế vận hành như một vòng xoáy tự củng cố. Nó nhân danh công bằng để duy trì bất bình đẳng.
Hệ quả tâm lí cũng nghiêm trọng không kém. Những sinh viên tại các trường Ivy League hôm nay chính là sản phẩm điển hình của một môi trường bị ám ảnh bởi thành tích. Ngay từ nhỏ, họ đã được dẫn dắt vào các lớp học thêm, hoạt động ngoại khóa, dự án cộng đồng được thiết kế khéo léo để tô điểm hồ sơ. Thời thơ ấu trở thành chuỗi đầu tư chiến lược hướng tới một ngày được nhận thư mời nhập học từ Harvard hay Yale. Đằng sau những bản lí lịch hào nhoáng là vô số giờ luyện tập, những cuộc so kè căng thẳng và nỗi lo lắng thường trực rằng bất cứ sự chậm bước nào cũng có thể phá hỏng con đường phía trước. Khi bước chân vào đại học, vòng xoáy ấy chưa hề kết thúc. Thành công học thuật chỉ là khởi đầu; sau đó là cuộc cạnh tranh vị trí thực tập, học bổng, cơ hội làm việc tại các công ty luật, ngân hàng hay viện nghiên cứu danh tiếng. Không ai được phép dừng lại và hài lòng.
Trong một cấu trúc như vậy, thất bại không còn được xem là bình thường mà trở thành dấu hiệu của sự kém cỏi. Một sinh viên không đạt học bổng danh giá sẽ không được nhìn như người thiếu may mắn mà như kẻ không đủ giỏi. Sự khắc nghiệt của cơ chế này không chỉ áp đặt từ bên ngoài mà thẩm thấu dần vào tâm trí khiến mỗi cá nhân trở thành giám khảo tàn nhẫn của chính mình. Không ít người, dù được coi là “thành công”, vẫn sống trong tâm trạng trống rỗng, bởi họ không biết rõ đâu là giới hạn đủ cho mình. Sự thăng tiến trở thành mục đích tự thân, còn giá trị của đời sống thì càng lúc càng bị lu mờ.
Điều đáng nói là ngay cả giới thắng cuộc trong meritocracy cũng không hạnh phúc. Họ bước vào một đời sống nghề nghiệp căng thẳng, nơi công việc chiếm trọn thời gian, danh tiếng và lương bổng là thước đo duy nhất. Họ trở thành luật sư ở các công ti quốc tế, nhà quản lí trong các tập đoàn, học giả ở các đại học danh giá. Nhưng sau những vinh quang ấy là nỗi lo thường trực: đánh giá bằng KPI, giữ vị thế, mở rộng ảnh hưởng, không để bị thay thế bởi thế hệ trẻ trung và sắc sảo hơn. Nhiều nghiên cứu tâm lí cho thấy tỉ lệ trầm cảm, lo âu và kiệt sức trong giới chuyên nghiệp cao bất thường. Cái giá của thành công là đời sống cá nhân bị bào mòn, quan hệ gia đình mong manh và cảm giác tự do ngày càng khan hiếm.
Từ góc nhìn xã hội học, meritocracy còn tạo ra một hình thức “chủ nghĩa quý tộc mới”. Nếu trước đây địa vị dựa trên huyết thống, nay nó dựa trên bằng cấp và nghề nghiệp. Người có học vị cao, có công việc trong những ngành được coi là danh giá, tự nhiên bước vào một giai tầng mới, tách biệt khỏi phần đông dân chúng. Ngôn ngữ, lối sống, cách tiêu dùng của họ khác biệt đến mức hình thành một loại giai cấp tinh hoa khó chạm tới. Họ có thể tin rằng thành công của mình hoàn toàn là thành quả cá nhân, nhưng thực chất đằng sau đó là sự thừa hưởng những điều kiện vật chất và văn hóa đặc quyền. Trong khi ấy, phần lớn xã hội, không có cơ hội tham gia cuộc đua hoặc bị loại sớm, cảm thấy mình bị coi thường và bỏ rơi. Từ đó nảy sinh sự bất mãn chính trị, sự chia rẽ văn hóa và niềm tin ngày càng suy giảm vào công bằng xã hội.
Sự chuyển dịch này phản ánh một nghịch lí. Chủ nghĩa thành tích xuất phát từ ý tưởng dân chủ nhưng kết quả lại tạo ra một dạng quý tộc tinh vi. Nó khẳng định rằng bất cứ ai cũng có thể vươn lên nhưng lại quên rằng điểm xuất phát của mỗi người không bao giờ giống nhau. Nó hứa hẹn mở cửa cho tất cả nhưng trên thực tế chỉ một số ít có chìa khóa để bước qua ngưỡng cửa ấy. Và khi thành công được hợp thức hóa bằng khái niệm “xứng đáng” thì thất bại cũng bị coi là bằng chứng của sự “không xứng đáng”. Đây chính là căn nguyên của cảm giác tủi hổ và cay đắng trong một xã hội tưởng như công bằng.
Nếu chỉ nhìn meritocracy trong khung cảnh nước Mĩ, bạn chưa thấy hết tầm vóc toàn cầu của nó. Thực ra, từ nửa sau thế kỉ 20, nhiều xã hội đã hấp thụ logic thành tích như một hình thái mặc định. Ở châu Âu, đặc biệt tại Pháp và Đức, sự cạnh tranh thành tích thể hiện trong các kì thi quốc gia khi mà số phận hàng trăm ngàn học sinh được quyết định chỉ bằng một kì thi. Bằng tú tài ở Pháp hay Abitur ở Đức trở thành tấm vé duy nhất để bước vào đại học danh giá. Trên nguyên tắc, kì thi mở cửa cho tất cả; nhưng trên thực tế, con cái gia đình trí thức, có truyền thống văn hóa, có điều kiện học thêm, lại luôn chiếm ưu thế. Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, áp lực còn khắc nghiệt hơn: toàn bộ tuổi trẻ bị gói lại trong những năm luyện thi, biến trường học thành bãi chiến trường. Những đêm trắng triền miên, sự kiệt sức về tinh thần, tỉ lệ tự tử cao ở thanh thiếu niên… tất cả là cái giá mà xã hội chấp nhận trả để duy trì một hệ thống được xem là “công bằng”.
Ở Việt Nam, tuy bối cảnh lịch sử và chính trị có khác biệt, nhưng di sản lâu dài của văn hóa thi cử đã góp phần chi phối sâu sắc ý thức xã hội. Từ thời Nho học, hệ thống khoa cử đã được xem như cánh cửa duy nhất để đổi đời khi một kì thi có thể quyết định cả số phận. Trong hiện đại, khuôn mẫu ấy vẫn tiếp tục tái hiện trong những kì thi vào lớp chọn, trường chuyên và đặc biệt là kì thi đại học. Phụ huynh dồn hết kì vọng vào những cuộc sát hạch ấy, coi chúng như định mệnh của con cái. Từ đó nảy sinh một nền văn hóa học thêm, luyện thi lan rộng, năng lực con người bị quy giản vào con số, trong khi sự phát triển toàn diện, khả năng sáng tạo và đời sống cảm xúc lại bị gạt sang bên lề. Hệ quả là không ít học sinh, dù đạt thành tích xuất sắc, khi bước vào đời lại lâm vào khoảng trống: điểm số rực rỡ không đủ để bảo đảm khả năng thích ứng với xã hội, cũng không đủ để nuôi dưỡng một đời sống hạnh phúc và cân bằng.
Nhìn từ triết học, meritocracy phơi bày một sự lệch lạc sâu sắc trong cách xã hội hiện đại quan niệm về giá trị. Nó đặt ra một tiêu chuẩn duy nhất, là thành-tích-đo-lường-được (achievement reduced to metrics) và để tiêu chuẩn ấy áp đảo mọi khía cạnh khác. Nhưng đời sống không chỉ là những con số. Lòng nhân ái, óc sáng tạo, trí tưởng tượng hay sự bền bỉ khi đối diện với nghịch cảnh đều là những phẩm chất khó lượng hóa. Thế nhưng, chính vì không lượng hóa được, chúng bị hạ thấp trong một trật tự nơi chỉ số, bảng xếp hạng và hồ sơ cá nhân trở thành vũ khí mạnh nhất. Michel Foucault từng phân tích xã hội hiện đại như một “xã hội giám sát”, nơi con người bị quản lí qua bệnh viện, nhà tù và trường học. Meritocracy chính là sự nối dài của cơ chế giám sát này. Nó không cần bạo lực bên ngoài bởi mỗi cá nhân đã tự trở thành giám sát viên khắt khe của chính mình.
Sự tha hóa nằm ở chỗ ngay cả thành công cũng không giải phóng được con người. Người giành học vị cao, có nghề nghiệp danh giá, tưởng như đã bước ra khỏi áp lực, thực chất chỉ bước vào một vòng xoáy mới. Thành công không phải đích đến mà chỉ là trạm dừng tạm thời trước một chặng đua khác khốc liệt hơn. Nếu chế độ quý tộc cũ dựa trên huyết thống ít ra còn mang lại cho kẻ trong cuộc cảm giác an toàn thì meritocracy lại biến cả kẻ thắng lẫn kẻ thua thành những kẻ lo âu thường trực. Người thua cảm thấy kém cỏi; người thắng thì sợ ngày mai bị thay thế.
Một số học giả đề xuất tìm lối thoát bằng cách tái định nghĩa giá trị xã hội. John Rawls, trong lí thuyết công bằng, từng nhấn mạnh rằng bình đẳng cơ hội không chỉ là hình thức mà đòi hỏi xã hội phải bù đắp khác biệt xuất phát điểm. Nhưng thực tế, điều này gần như bất khả vì vốn văn hóa và kinh tế đã ăn sâu. Chính vì thế, giải pháp không thể chỉ là “san phẳng vạch xuất phát” mà cần thiết phải đặt lại câu hỏi. Có nhất thiết phải biến mọi lĩnh vực thành một cuộc đua? Có nhất thiết để thành tích học vấn và nghề nghiệp trở thành thước đo tối thượng của phẩm giá con người?
Đại dịch toàn cầu bốn năm trước đã hé mở một sự thật khác. Khi xã hội phong tỏa, chính những công việc bị coi là “thấp kém” trong hệ thống meritocracy lại trở nên không thể thiếu: y tá, công nhân vệ sinh, nhân viên siêu thị, người giao hàng. Họ giữ cho đời sống không sụp đổ. Họ chứng minh rằng giá trị của một xã hội không thể chỉ đo bằng thành tích học thuật hay lương bổng ngành tài chính. Bài học ấy gợi mở một khả thể: thay vì tiếp tục thần thánh hóa meritocracy, cần xây dựng một hệ giá trị mới, nơi phẩm giá con người được công nhận trong mọi dạng thức lao động, thành công không chỉ là leo thang bậc học vấn và nghề nghiệp.
Meritocracy, trong hình hài hiện tại, giống một chiếc cầu thang vô tận. Người leo lên thì kiệt sức nhưng không dám dừng, kẻ bị bỏ lại thì mang mặc cảm vô dụng. Vấn đề không nằm ở số bậc thang mà ở câu hỏi: tại sao phải leo mãi? Chừng nào ta chưa đặt lại câu hỏi ấy, chừng đó xã hội còn bị giam trong xiềng xích của thành tích. Lối thoát, nếu có, phải bắt đầu từ việc từ chối sự độc quyền của thành tích đo lường được, mở rộng không gian cho những giá trị khác như tình thân, cộng đồng và sáng tạo.
Nếu nhìn vào con đường của những học giả từng đi từ trường công đến Harvard hay Yale, từ sinh viên đến giáo sư, ta sẽ thấy hình ảnh sống động của meritocracy. Một lời hứa được hiện thực hóa nhưng đồng thời là một cái bẫy tinh vi. Thế hệ kế tiếp của họ, những sinh viên Havard hay Yale hôm nay, đang bước vào cùng một vòng xoáy. Họ sẽ trở thành tầng lớp mới của chủ nghĩa quý tộc thành tích, tái sản xuất đặc quyền dưới vỏ bọc công bằng. Câu hỏi lớn còn bỏ ngỏ cho toàn xã hội là liệu chúng ta có đủ dũng khí để hình dung một mô hình khác - một mô hình trong đó con người không còn bị giam hãm trong một cuộc cạnh tranh vô tận mà có thể tìm thấy ý nghĩa trong những chiều kích rộng lớn hơn của đời sống?
— tino

Đọc bài của anh, em thấy như tìm được đúng tên cho những gì em vẫn âm thầm ghi nhận: một giai cấp “quý tộc mới” dựng lên từ bằng cấp, bất bình đẳng ngay ở vạch xuất phát, và vòng xoáy áp lực–lo âu–kiệt sức bào mòn cả người được gọi là thành công.
Đoạn anh viết về thành quả cá nhân nhưng thực ra dựa trên vốn vật chất và văn hóa được thừa hưởng chạm đúng vào suy nghĩ của em đối với vụ “Tổng tài” hôm trước. Người ta chế giễu cách ứng xử của nhân vật chính. Còn em nhìn thấy một hệ quả đáng tiếc khi không có điều kiện đặc quyền để được giáo dục tử tế ngay từ đầu. Và thế là sự chế giễu trở thành một cơ chế loại trừ, thiếu hụt cấu trúc trở thành lỗi đạo đức cá nhân.
Cảm ơn anh vì bài viết thật thấu đáo, câu chữ của anh giúp em suy nghĩ được rõ ràng hơn.
Em Vân
Cảm ơn anh vì bài viết vô cùng thấu đáo.