𝐉𝐚𝐜𝐪𝐮𝐞𝐬 𝐃𝐞𝐫𝐫𝐢𝐝𝐚 𝐯𝐚̀ 𝐝𝐢 𝐬𝐚̉𝐧 𝐠𝐢𝐚̉𝐢 𝐜𝐚̂́𝐮 𝐭𝐫𝐮́𝐜
Jacques Derrida sinh năm 1930 tại El-Biar, ngoại ô thủ đô Algiers trong bối cảnh Algérie còn là thuộc địa Pháp. Ông là con thứ ba trong một gia đình Do Thái trung lưu, mang trong mình căn cước vừa thuộc về nước Pháp vừa bị đẩy ra ngoại biên bởi chính nước Pháp. Khi chính quyền Vichy áp đặt các đạo luật bài Do Thái, cậu bé Derrida bị buộc rời khỏi trường công. Kinh nghiệm bị loại trừ ấy trở thành một ám ảnh nền tảng, khiến ông cả đời nghi ngờ mọi hình thức phổ quát tự nhận là hiển nhiên.
Derrida từ rất sớm đã trải qua cảm giác rằng cái gọi là chân lí, cái gọi là sự hiện diện, bao giờ cũng đi kèm một cơ chế loại trừhính kinh nghiệm ấy đã in dấu trong tư duy triết học sau này. Sau chiến tranh ông sang Pháp học tại École Normale Supesrieure, một môi trường đào tạo nhiều trí thức hàng đầu của Pháp. Ở đây ông tiếp cận hiện tượng học Husserl, triết học Heidegger, ngôn ngữ học Saussure, và cả Freud, Nietzsche, Lévi-Strauss. Từ những ảnh hưởng này ông hình thành một con đường riêng, không nhắm đến mục đích dựng nên một hệ thống triết học mới thay thế cái cũ mà hướng đến việc làm lung lay niềm tin rằng có thể tồn tại một nền tảng bất biến nào đó.
Sự nghiệp học thuật của Derrida bắt đầu gây chấn động từ cuối thập niên sáu mươi. Năm 1967, ông xuất bản cùng lúc ba tác phẩm, “De la grammatologie”, “Écriture et différence”, và “La Voix et le phénomène”. Cả ba đều trực diện công kích cái mà ông gọi là siêu hình học của sự hiện diện.
Trong “De la grammatologie”, ông phê phán sự ưu tiên mà truyền thống triết học dành cho lời nói so với chữ viết. Triết học từ Plato, Aristotle đến Rousseau đều xem lời nói gần gũi với chân lí hơn, vì người nói hiện diện trực tiếp. Viết chỉ là bản sao, một cái bóng xa rời. Derrida đảo ngược trật tự ấy, ông khẳng định rằng chính viết mới là điều kiện để ngôn ngữ khả hữu, bởi lẽ ngay cả trong lời nói, nghĩa cũng chỉ tồn tại nhờ khả năng được lặp lại và tồn tại ngoài sự hiện diện của người nói. Câu văn nổi tiếng “Il n’y a pas de hors-texte” xuất hiện trong tác phẩm này thường bị hiểu sai thành “mọi thứ đều chỉ là văn bản”. Derrida không hề phủ nhận thực tại, ông muốn nhấn mạnh rằng bất cứ khi nào chúng ta tiếp cận một sự vật hay một ý niệm, chúng ta chỉ có thể làm vậy thông qua ngôn ngữ, và ngôn ngữ không bao giờ trong suốt. Ý nghĩa không tồn tại ngoài hệ thống kí hiệu, bởi ngay cả khái niệm “ngoài văn bản” cũng chỉ có thể được diễn đạt bằng văn bản.
Cũng trong giai đoạn này, tại hội thảo Johns Hopkins năm 1966, Derrida đọc bài tham luận “Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn khoa học nhân văn” nơi ông tuyên bố rằng mọi cấu trúc đều cần một trung tâm để ổn định, nhưng trung tâm ấy lại vừa ở trong vừa ở ngoài cấu trúc. Không có trung tâm tuyệt đối, chỉ có trò chơi vô tận của kí hiệu. Bài thuyết trình này được xem như dấu mốc đánh sập sự tự tin của cấu trúc luận (structuralisme). Triết học và nhân văn học từ đó bước vào một không gian mới, nơi giải cấu trúc trở thành từ khóa. Derrida nhanh chóng được mời thuyết giảng tại nhiều đại học Mĩ. Ở Yale, ông ảnh hưởng đến một thế hệ phê bình gia tạo thành cái gọi là trường phái Yale với Paul de Man, Geoffrey Hartman, J. Hillis Miller, Harold Bloom. Tại Mĩ, “deconstruction” không chỉ là một khái niệm triết học mà còn trở thành trào lưu văn hóa, lan tỏa vào phê bình văn học, nghệ thuật, kiến trúc, luật học.
Derrida không dừng ở ngôn ngữ. Ông mở rộng sang chính trị, đạo đức, luật học. Trong “Force de loi”, ông khẳng định “công lí, nếu có, là cái vượt quá luật”. Luật pháp là văn bản, có thể áp dụng, nhưng công lí không bao giờ trùng khớp hoàn toàn với luật, nó luôn là một viễn tượng pchưa đạt. Trong “Spectres de Marx”, Derrida viết về bóng ma của Marx vẫn ám ảnh thế giới sau khi chủ nghĩa cộng sản Đông Âu sụp đổ. Ông khẳng định rằng công lí toàn cầu không thể tách khỏi lịch sử áp bức và bóc lột, rằng Marx vẫn là lí thuyết gia không thể gạt bỏ. Trong “Politiques de l’amitié”, ông bàn về tình bạn và cộng đồng chính trị, cho rằng một cộng đồng thực sự phải mở ra cho sự dị biệt và tha nhân.
Derrida cũng can dự vào các sự kiện chính trị đương thời, từ phong trào chống Apartheid ở Nam Phi, sự ủng hộ Nelson Mandela, cho đến những thảo luận về Trung Đông và chủ nghĩa Sion. Tư tưởng ông không nằm ngoài đời sống, mà luôn gắn với những khủng hoảng chính trị và đạo đức của thời đại.
Phần sâu và gây ấn tượng nhất trong di sản của Derrida chính là giải cấu trúc (déconstruction). Giải cấu trúc không phải là phá hủy, cũng không phải một phương And pháp áp dụng theo quy trình. Derrida định nghĩa: giải cấu trúc không phải là phương pháp, không phải công cụ, mà là điều xảy ra. Nó là cách đọc để chỉ ra rằng một kết cấu tri thức vốn được xem là hiển nhiên thực ra được nxây dựng trên những chọn lựa, những loại trừ, những thứ bậc, và rằng nó có thể tự mâu thuẫn. Triết học phương Tây từ Plato đã vận hành theo logocentrism, tức là trung tâm hóa lời và ý, trong đó sự hiện diện được coi là nền tảng. Derrida giải cấu trúc logocentrism bằng cách cho thấy rằng ngay cả trong phát ngôn trực tiếp, nghĩa cũng không bao giờ thuần khiết. Nó tồn tại nhờ khác biệt với cái khác và luôn bị trì hoãn.
Chính vì thế Derrida sáng tạo khái niệm différance. Từ này chỉ có thể phân biệt trong chữ viết chứ không phải trong âm thanh, bởi phát âm của différence và différance giống hệt nhau. Différance mang nghĩa kép: khác biệt và trì hoãn. Một dấu hiệu chỉ có nghĩa nhờ sự khác biệt với các dấu hiệu khác, nhưng đồng thời nghĩa của nó luôn bị trì hoãn vì cần đến chuỗi vô tận các dấu hiệu để giải thích. Derrida viết: “Différance là điều khiến cho chuyển động của ý nghĩa không bao giờ hoàn tất, không bao giờ hiện diện trong một sự viên mãn đơn giản”. Cái gọi là hiện diện luôn bị xâm nhập bởi vắng mặt, cái gọi là gốc rễ luôn bị ăn mòn bởi sự khác biệt.
Giải cấu trúc cũng nhằm đảo lộn các cặp nhị nguyên vốn thống trị triết học: nói và viết, hiện diện và vắng mặt, trung tâm và ngoại biên, bản chất và phụ thuộc, nam và nữ. Derrida không đơn giản lật ngược trật tự mà chỉ ra rằng chính cái bị xem là phụ thuộc lại là điều kiện cho cái được xem là chính. Nói được coi là ưu việt hơn viết, nhưng chính nhờ tính chất viết, nghĩa là khả năng lặp lại và tồn tại ngoài sự hiện diện, mà lời nói mới có ý nghĩa. Do đó viết không phải là bóng mờ của nói mà chính là điều kiện làm cho ngôn ngữ khả hữu.
Khi đọc lại Husserl, Derrida chỉ ra rằng ngay cả trong hiện tượng học, nơi ý thức về hiện tại được xem như nền tảng trực tiếp nhất của kinh nghiệm, thì cái hiện tại ấy cũng không bao giờ thuần khiết. Trong tri giác về âm thanh, chẳng hạn, một nốt nhạc chỉ được nhận biết vì nó gắn liền với dư vang vừa qua và với chờ đợi về âm tiếp theo. Hiện tại vì thế không phải một điểm tuyệt đối, mà luôn được cấu thành bởi quá khứ và tương lai. Trong tranh luận với Austin và Searle về lí thuyết hành vi ngôn ngữ, Derrida tiếp tục đẩy luận điểm này xa hơn khi khẳng định rằng chính khả năng lặp lại và khả năng tách khỏi bối cảnh mới là điều kiện của ngôn ngữ. Một phát ngôn chỉ có hiệu lực vì nó có thể được nhắc lại và trích dẫn trong những tình huống khác với ý định ban đầu. Tính chất có thể được lặp lại này cho thấy ngôn ngữ không bao giờ khép kín trong bối cảnh duy nhất hay trong ý muốn của người nói, mà luôn có khả năng vượt ra, tạo nên những nghĩa mới ngoài tầm kiểm soát.
Ảnh hưởng của giải cấu trúc lan tỏa khắp các ngành. Trong phê bình văn học, giải cấu trúc cho thấy văn bản luôn chứa mâu thuẫn nội tại. Paul de Man phân tích rằng nỗ lực diễn giải văn bản luôn phơi bày sự bất ổn của nó, vì văn bản có thể tự phá vỡ chính ý nghĩa mà nó khẳng định. Trong luật học, Derrida cho rằng công lí không thể đồng nhất với luật, vì luật là văn bản và có thể được áp dụng, trong khi công lí luôn ở phía trước, vượt khỏi khả năng áp dụng. Trong nghiên cứu chính trị, Derrida nhấn mạnh tính hiếu khách và tha nhân. Một cộng đồng không thể chỉ khép kín vào bản sắc của mình mà phải mở ra cho người khác, cho kẻ ngoại lai. Trong hậu thực dân và nữ quyền, giải cấu trúc trở thành công cụ phê phán những nhị nguyên trung tâm và ngoại biên, nam và nữ, văn minh và man rợ. Gayatri Spivak vận dụng giải cấu trúc để đặt câu hỏi: người dưới quyền có thể lên tiếng không, và nếu không thể, đó là vì họ bị kìm nén trong chính ngôn ngữ của quyền lực.
Giải cấu trúc thường là tâm điểm của những chỉ trích gay gắt. Nhiều triết gia trong truyền thống phân tích cho rằng nó chỉ dẫn tới chủ nghĩa tương đối, làm tan rã mọi tiêu chuẩn của chân lí. Song Derrida chưa bao giờ khẳng định rằng tất cả đều ngang bằng như nhau hay rằng chân lí không tồn tại. Ông nhấn mạnh một điểm tinh tế hơn: trong khi không có nền tảng tuyệt đối và vĩnh viễn cho chân lí, điều đó không đồng nghĩa với việc con người được phép từ bỏ khát vọng công lí. Trái lại, chính sự thiếu vắng một nền tảng bất biến buộc ta phải tỉnh thức trước từng lời nói, từng hành động và gánh lấy trách nhiệm với chúng. Derrida coi giải cấu trúc luôn gắn liền với một ý niệm về công lí, và công lí ở đây không phải là một cái gì sẵn có, bất di bất dịch, mà là một chân trời mở, một nhiệm vụ chưa bao giờ hoàn tất, luôn thúc giục tự vấn và hành động.
Khi Derrida qua đời năm 2004, Le Monde ghi nhận ông như một tư tưởng gia đã làm rung chuyển không chỉ triết học mà cả khoa học nhân văn. Giải cấu trúc không dừng lại ở một lí thuyết mà trở thành một cách sống và suy tư, một lập trường chính trị và đạo đức. Nó nhắc ta rằng không có chân lí nào được miễn trừ khỏi chất vấn; và công lí chỉ hiện hữu trong chính nỗ lực không ngừng làm sáng tỏ những gì ta từng coi là hiển nhiên.
- Tino -
